Nhận thức công bằng phân phối và thái độ công chúng với chính sách cấm xe xăng tại Hà Nội

Tóm tắt

Bài nghiên cứu sử dụng mô hình Hồi quy Logit thứ bậc tổng quát (gologit2) để đánh giá tác động của nhận thức về công bằng phân phối từ phía Chính phủ, Doanh nghiệp và Người dân đến thái độ của công chúng đối với chính sách cấm xe xăng. Kết quả cho thấy, cả 3 nhóm yếu tố này đều có tác động đáng kể và làm thay đổi rõ rệt xu hướng tâm lý dư luận. Đáng chú ý, thay vì thúc đẩy sự ủng hộ như kỳ vọng lý thuyết, việc đề cập đến các khía cạnh công bằng trong bối cảnh thực tế lại làm gia tăng xác suất xuất hiện thái độ tiêu cực và làm suy giảm đáng kể các phản hồi tích cực hay trung lập. Kết quả này hàm ý công chúng đang nhìn nhận các vấn đề công bằng gắn liền với những bất cập và gánh nặng về chi phí chuyển đổi. Đây là cơ sở quan trọng để các nhà hoạch định chính sách điều chỉnh chiến lược truyền thông và phân bổ lợi ích nhằm cải thiện niềm tin cộng đồng.

 

Từ khóa
công bằng phân phối chính sách cấm xe xăng thái độ công chúng

Tài liệu tham khảo

1.
[1] Brand, C and Anable, J. (2019), ‘Disruption’ and ‘continuity’ in transport energy systems: the case of the ban on new conventional fossil fuel vehicles, in proceedings of the European Council for an Energy Efficient Economy (ECEEE) 2019 Summer Study, Hyères, France, pp. 1117-1127, truy cập từ <https://eprints.whiterose.ac.uk/id/eprint/147678/>.
2.
[2] Ha-Duong, M. (2025), Hanoi’s transition to fossil fuel free streets [Hạn chế xe xăng: bước đi táo bạo cho mục tiêu bền vững], post-print hal-05196014, École des Ponts ParisTech - CNRS - Université Paris-Saclay, truy cập từ <https://enpc.hal.science/hal-05196014/>.
3.
[3] Harring, N., Ndwiga, M., Nordén, A., Slunge, D. (2024), public acceptability of policy instruments for reducing fossil fuel consumption in East Africa, climate policy, 24(6), 812-827, https://doi.org/10.1080/14693062.2024.2302319.
4.
[4] Huber, R., Wicki, M., Bernauer, T. (2019), Public support for environmental policy depends on beliefs concerning effectiveness, intrusiveness, and fairness, environmental politics, 29(4), 649-673, https://doi.org/10.1080/09644016.2019.1629171.
5.
[5] Kemp, S. (2024), Digital 2024: Vietnam, DataReportal, We Are Social và Meltwater, truy cập từ https://datareportal.com/reports/digital-2024-vietnam
6.
[6] Kito, M., Nakamoto, Y., Kagawa, S., Hienuki, S., Hubacek, K. (2024), Environmental consequences of Japan’s ban on sale of new fossil fuel-powered passenger vehicles from 2035, journal of cleaner production, 437, 140658, https://doi.org/10.1016/j.jclepro.2024.140658.
7.
[7] Maestre-Andrés, S., Drews, S., van den Bergh, J. (2019), perceived fairness and public acceptability of carbon pricing: a review of the literature, climate policy, 19(9), 1186-1204, https://doi.org/10.1080/14693062.2019.1639490.
8.
[8] Rawls, J. (1971), a theory of justice, Harvard University Press, Cambridge, Massachusetts, truy cập từ <https://archive.org/details/theoryofjustice0000rawl>.
9.
[9] Wei, Y., Gong, P., Zhang, J., Wang, L. (2021), Exploring public opinions on climate change policy in “big data era”: a case study of the European Union emission trading system (EU-ETS) based on Twitter, energy policy, 158, 112569, https://doi.org/10.1016/j.enpol.2021.112569.