Số phát hành: Số 14 - Tháng 6 - 2024Quản trị - Quản lý
Quản lý nguồn thu ở các trường đại học công lập hướng tới tự chủ tài chính: kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam
Xuất bản: tháng 7 28, 2026
Tóm tắt
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập hiện nay, giáo dục đại học được các quốc gia đặc biệt quan tâm. Khi nguồn thu NSNN (NSNN) còn hạn chế, để đáp ứng được các yêu cầu của quá trình phát triển thì tự chủ tài chính tại các trường đại học công lập là xu hướng tất yếu. Để thực hiện tự chủ tài chính, việc khai thác và quản lý nguồn thu của các trường đại học công lập là nội dung đóng vai trò then chốt. Ở Việt Nam, năm 2015 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 16/2015/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập, trong đó bao gồm cả các trường đại học công lập. Xuất phát từ xu hướng tự chủ tài chính của các trường đại học công, trong bài viết này tác giả sẽ nghiên cứu kinh nghiệm quản lý nguồn thu ở các trường đại học công lập của một số quốc gia trên thế giới, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Từ khóa
đại học công lậpquản lý nguồn thungân sách nhà nướctự chủ tài chính
Tài liệu tham khảo
1.
Chính phủ (2015), Nghị định số 16/2015/NĐ-CP quy định về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập, ban hành ngày 14/2/2015.
2.
Nguyễn Đình Đức (2018), Tự chủ đại học - Bài học kinh nghiệm từ Nhật Bản, Tạp chí Tài chính, https://dantri.com.vn/giao-duc/tu-chu-dai-hoc-bai-hoc-kinh-nghiem-tu-nhat-ban-20181025083057569.htm.
3.
Nguyên Kiều Duyên (2021), Kinh nghiệm thực hiện cơ chế tự chủ tài chính ở các trường đại học trên thế giới và bài học đối với Việt Nam, Tạp chí Tài chính, số tháng 5/2021.
4.
Văn phòng Quốc hội (2018), Văn bản hợp nhất Luật Giáo dục đại học số 42/VBHN-VPQH, ban hành ngày 10/12/2018.
5.
Mora, J. G. - Villarreal, E. (2001), Breaking down structural barriers to innovation in traditional universities, Higher Education Management, Vol. 13(2)
6.
Taylor, J. (2011), The assessment of research quality in UK universities: peer review or metrics?, British Journal of Management, Vol. 22 (2), pp. 202-217.